Hồ Tây - Giai thoại và truyền thuyết

Hồ Tây (Tây Hồ) nơi đây có diện tích hơn 500 ha và chu vi 18 km. Hồ tọa lạc ở vị trí tây bắc của Hà Nội, đây là hồ nước tự nhiên lớn nhất Hà Thành. Tây Hồ được chứng minh là một phần của con sông Hồng do qua trình ngưng đọng trước khi dòng sông này đổi dòng chảy. Và nơi đây trong thời gian tới, sẽ được quy hoạch thành trung tâm của thủ đô, thay thế vị trí trung tâm của Hồ Gươm. 

Hồ có từ thời Hùng Vương (Theo sách Tây Hồ chí). Thời điểm đó, nơi đây là một bến giáp sông Hồng, thuộc động Lâm Ấp, nên người ta đặt đây là bến Lâm Ấp.

hồ tây

Dưới thời Hai Bà Trưng, xung quanh hồ có rất ít người sinh sống, và họ thường sống bằng nghề ăn bắt thú rừng, các loại thủy sản như tôm, cua, cá và trồng trọt.

Hồ được bao bọc bởi rừng thực vật với những loại cây chủ yếu như tre ngà, bàng, gỗ tầm,… Ngoài ra, nơi đây còn là nơi chứa đựng các loại động vật vừa và nhỏ, có cả những loại thú quý hiếm. Hiện nay vẫn có hệ sinh thái phong phú với các loại thực vật như sen, tảo,.. hay động vật thì là nguồn khai thác ốc dồi dào.

Về địa lý, đây là hồ ngoại sinh, dạng lòng chảo, nó đã được ngành địa chất và lịch sử của nước ta chứng minh là một phần của sông Hồng. Dưới thời nhà Lý và Trần, thì nơi đây là một thắng cảnh. Nó đã được tìm thấy và khai thác. Nhân dân dưới thời đó đã biến nơi đây thành nơi khai hoang, lập ấp và nuôi tầm dệt lụa.

Hồ Tây trước đây còn có các tên gọi khác như Đầm Xác Cáo, Hồ Kim Ngưu, Lãng Bạc, Dâm Đàm, Đoài Hồ, là một hồ nước tự nhiên lớn nhất ở nội thành Hà Nội. Hồ có diện tích hơn 500 ha với chu vi là 18 km. Hồ nằm ở vị trí phía Tây Bắc trung tâm Hà Nội. Ngành địa lý lịch sử đã chứng minh, Hồ Tây là hồ ngoại sinh, có dạng lòng chảo, là một đoạn của sông Hồng xưa trong quá trình ngưng đọng lại sau khi sông đổi dòng chảy.

Đầm Xác Cáo: Đây được xem là cái tên đầu tiên của Hồ Tây, được nhắc đến trong Lĩnh Nam chích quái do Vũ Quỳnh và Kiều Phú biên soạn vào khoảng năm 1942.

Cái tên Đầm Xác Cáo được gắng liền với sự tích Long Quân cho người bắt và nuốt ăn con cáo chín đuôi sống tại đây. Con cáo này tác oai tác oái lúc là người, lúc là quỷ, làm hại nhân dân xung quanh. Sau khi dâng nước lên công phá thì nơi này trở thành một vũng sâu và được gọi với cái tên như vậy.

Hồ Kim Ngưu: Cái tên này gắn liền với sự tích Trâu vàng từ phương Bắc bay về phương Nam để tìm mẹ. Theo truyền thuyết, Thiền sư Minh Không đã đúc một chiếc chuồng đồng, sau khi chuông đúc xong thì đánh một hồi để báo hiệu cho người dân biết đất nước đang thái bình.

Đúng lúc đó, trâu vàng bên Tàu nghe tưởng tiếng mẹ vội đứng dậy và chạy về hướng tiếng chuông. Đến nơi tìm hoài không thấy, nó đã quầng quanh nơi đây, nhảy lên và nằm xuống, biến nơi đây thành một đầm lầy chứa đầy nước. Từ đó, người ta gọi nơi đó là Hồ Kim Ngưu.

Tây Hồ: Trước cái tên Tây Hồ là tên Dâm Đàm, tuy nhiên, đây là tên húy của vua Lê Thế Tông, chính vì thế, để tránh trùng với tên húy của vua, người ta đổi thành tên Tây Hồ. Trước là vậy, sau là để sánh cùng với phương bắc. Bởi vào thời điểm đó, phương bắc cũng có một Tây Hồ cực kì nổi tiếng ở Hàng Châu.

Ngoài những cái tên kể trên, thì Hồ Tây còn được gọi với những cái tên khác như: Dâm Đàm, Đoài Hồ, Lãng Bạc.

Ngoài ra, xung quanh bờ hồ còn có sự xuất hiện của các hang động vừa và nhỏ, bờ phía Tây có Già La Động (nay là Quán La thuộc phường Xuân La), bờ phía Đông có Nha Lâm Động (nay là phố Yên Ninh, Hòe Nhai), bờ phía Nam có Bình Sa Động (thời Lý đổi là Giáp Cơ Xá (nay thuộc quận Hoàn Kiếm). Cư dân sinh sống ở đây rất thưa thớt, họ sống chủ yếu bằng nghề săn bắt thú rừng, tôm, cua, cá và trồng tỉa cây cối.

Hồ Tây từ lâu lắm đã là thắng cảnh. Thời Lý - Trần, các vua chúa lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, giải trí như cung Thúy Hoa và Từ Hoa thời Lý (nay là khu vực chùa Kim Liên), điện Hàm Nguyên thời Trần nay là khu chùa Trấn Quốc.

Tương truyền, chùa Kim Liên được dựng trên nền cung điện của Công chúa Từ Hoa là con Vua Lý Thần Tông. Để phát triển cơ sở tầm tang, công chúa Từ Hoa đã mang các cung nữ ra khu vực Hồ Tây khai hoang, lập ấp và dựng nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa cho họ. Trại Nghi Tàm là một điền trang lớn quán xuyến việc này.

Hồ Tây vẫn được khai phá, cải tạo vào thời nhà Trần. Công chúa Túc Trinh con Vua Trần Thánh Tông (1258-1278) đã rời cung điện ra vùng Bắc Kinh thành Thăng Long rồi bỏ tiền phát chẩn, cấp giống vốn cho dân nghèo làm ăn sinh sống. Lúc đầu chỉ chiêu mộ được 10 nhân khẩu, thấy mảnh vườn bên sông vừa đẹp lại vừa tiện đi lại nên lập ấp nhỏ ở xứ Vườn, sau dân lập thành làng đặt tên là Cổ Nhuế viên.

Đường Thanh Niên có từ năm 1957 - 1958, trước gọi là đường Cổ Ngư, hình thành từ một con đê hẹp được đắp ngăn một góc Hồ Tây. Nhưng sau theo ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đường được thanh niên học sinh Hà Nội lao động trong những ngày thứ bảy cộng sản và mở rộng như ngày nay.

Nếu ai chưa biết đến Tây Hồ thì có thể sẽ chưa biết đến với Hà Nội. Nó hiện nay đang là một trong những nơi tìm năng và có khả năng thay thế vị trí trung tâm hiện tại của Hồ Gươm.

Nguồn: Sưu tầm 

Bạn đang xem: Hồ Tây - Giai thoại và truyền thuyết
Bài trước Bài sau
VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

Địa chỉ email của bạn sẽ được bảo mật. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đăng nhập
Đăng ký
Hotline: 0966143000
x